TRUYỀN THỐNG KHOA CỬ XÃ THƯỢNG PHÚC
Lê Nhung
12:55 29/10/2025
Khoa cử hay Khoa cử chế độ là hình thức lựa chọn người tài giỏi thông qua thi cử. Đây là chế độ thi tuyển phổ biến ở các nước Đông Á thời phong kiến, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta, khoa thi Tiến sĩ đầu tiên được tổ chức năm 1075 dưới triều vua Lý Nhân Tông, và kết thúc ở khoa thi Kỷ Mùi năm 1919, triều vua Khải Định. Trong suốt gần 1000 năm đó, khoa cử đã trở thành con đường tiến thân của rất nhiều sĩ tử. Ở từng cấp độ đỗ đạt khác nhau, những người đỗ Tiến sĩ, Cử nhân hay Tú tài đều có những ưu đãi tương xứng. Không những vậy, việc đỗ đạt trong thi cử còn là niềm vinh dự của sĩ tử và tự hào của quê hương, dòng họ.
TRUYỀN THỐNG KHOA CỬĐịa bàn xã Thượng Phúc ngày nay vốn là vùng đất hiếu học, là địa phương có thành tích khoa cử của huyện Thượng Phúc và phủ Thường Tín xưa. Thống kê cho thấy, xã Thượng Phúc đã có 19 vị Tiến sĩ đỗ Đại khoa cùng hàng chục vị đỗ kỳ thi Hương. Ngay từ sớm, xã Thượng Phúc đã có người đỗ khai khoa là ông Lý Tử Tấn, đỗ Hoàng giáp khoa khi Thái học sinh triều Hồ (1400). Kế tiếp là hàng loạt người con ưu tú của huyện Thượng Phúc được vinh danh bảng vàng, làm rạng rỡ cho xã nhà như Ngô Hoan, Dương Trực Nguyên,... Nổi bật hơn, xã Thượng Phúc còn có nhiều làng khoa bảng, nhiều gia đình, dòng họ có nhiều người cùng đỗ đạt cao. Trong chế độ Khoa cử Nho học, để có được danh phận từ trường thi, người sĩ tử không những cần được học hành từ sớm mà còn trải qua các nhiều bước thi tuyển từ địa phương đến trung ương. Qua từng giai đoạn lịch sử, quy trình thi cử và danh hiệu đỗ đạt cũng có sự khác nhau. Về cơ bản, có 3 vòng là thi Hương, thi Hội và thi Đình. Kỳ thi Hương là vòng sát hạch đầu tiên, thường được tổ chức 3 năm một lần tại địa phương. Thời Lê, có khoảng 5-6 trường thi Hương, mỗi trường thi tập hợp thí sinh từ 2-3 trấn, sang thời Nguyễn mỗi trường có thí sinh từ 2-3 tỉnh. Một kỳ thi Hương thường trải qua 4 kỳ, mỗi kỳ có nội dung sát hạch khác nhau: - Kỳ thứ nhất (Nhất trường): làm bài về Kinh nghĩa.
- Kỳ thứ hai (Nhị trường): thi làm chế, chiếu, biểu (tập làm các thể văn hành chính).
- Kỳ thứ ba (Tam trường): làm bài bằng thơ, phú.
- Kỳ thứ tư (Tứ trường): làm bài thể văn sách, tức là biện luận về đối sách trị nước.
Người đỗ 3 trường, triều Lê gọi là Sinh đồ, triều Nguyễn gọi là Tú tài. Người đỗ cả 4 trường, triều Lê được ban học vị Hương cống, triều Nguyễn được ban học vị Cử nhân. Người đỗ đầu 1 trường thi gọi là Hương nguyên, Giải nguyên hoặc Thủ khoa. Người đỗ thứ hai gọi là Hương á, Á nguyên. Các thí sinh đi vào trường thi Hương ở Nam Định Những người đỗ Hương cống, Cử nhân được tiếp tục dự kỳ thi Hội. Đây là vòng thi đại khoa, được tổ chức ở Kinh đô, theo lệ 3 năm mở một khoa. Kỳ thi này cũng gồm 4 trường. Người đỗ cả 4 trường gọi là Trúng cách và được vào thi Đình. Từ năm Minh Mệnh 10 (1829), đặt thêm học vị Phó bảng cho những người có điểm gần đạt để thi Đình, người đỗ Phó bảng có đãi ngộ thấp hơn Chính bảng, chưa được khắc tên vào bia Tiến sĩ. Thi Đình là kỳ cuối cùng của thi đại khoa, kỳ này thường do đích thân đức vua ra đề, sau đó tùy vào số điểm của các thí sinh mà ban học vị. Theo thông lệ thì "Đình thí bất xuất", tức là đã vào vòng thi Đình thì không bị đánh hỏng, trừ những trường hợp đặc biệt. Những người đỗ sau kỳ thi Đình được khắc tên vào bia Tiến sĩ để lưu truyền muôn đời. Dựa theo thứ tự điểm số, các Tiến sĩ sau kỳ thi Đình được phân làm 3 hạng: - Nhất giáp: gồm 3 người, được ban Tiến sĩ cập đệ. Người đỗ đầu là Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh, gọi là Trạng nguyên. Người đỗ thứ 2 là Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh, tức Bảng nhãn. Người đỗ thứ 3 gọi là Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh, tức Thám hoa. Đến triều Nguyễn thì bỏ không lấy Trạng nguyên, lúc này Bảng nhãn được coi như người đỗ đầu.
- Nhị giáp: được ban Tiến sĩ xuất thân, còn gọi là Hoàng giáp. Số lượng Hoàng giáp của huyện Thường Tín là gần 20 vị. Xã Thượng Phúc có các vị đỗ Nhị giáp nổi tiếng như Lý Tử Tấn, Ngô Hoan, Dương Trực Nguyên,…
- Tam giáp: được ban Đồng tiến sĩ xuất thân.
Như vậy ta thấy, đạt được danh vị Khoa bảng là kết quả của quá trình phấn đấu không ngừng và sự sàng lọc rất ngặt ngèo. Vì vậy, không ngẫu nhiên mà những người đỗ Đại khoa trước kia lại rất được xã hội coi trọng. Thực tế, có những người đến lục tuần mà vẫn chưa đến được kỳ thi Hội, đành phải bỏ dở hoài bão và truyền lại chí hướng cho các thế hệ sau. Tên người trúng tuyển được khắc trên bảng vàng Trường thi Nam Định trong Kỳ thi 1897 Khác với những Tiến sĩ đã được khắc tên bia đá lưu danh sử sách, tên tuổi của các vị đỗ Trung khoa không được thống kê đầy đủ từ chính quyền phong kiến mà được lưu lại trên các tư liệu địa phương như Văn từ, Văn chỉ, trong các nội dung Văn khắc và gia phả dòng họ. Việc thu thập những thông tin này cần rất nhiều thời gian và tâm huyết và không chỉ của một vài cá nhân. Ở Việt Nam, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ khá phong phú các tư liệu về Văn khắc và Thư tịch cổ. Từ đó, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã xuất bản bộ sách Khoa cử Việt Nam gồm 4 tập với nội dung là tập hợp danh sách các vị đỗ kỳ thi Hương qua các triều đại và ở khắp các vùng miền. Với nội dung chính từ bộ sách Khoa cử Việt Nam, cùng với việc khảo cứ thêm các tư liệu tại địa phương, đã thống kê được xã Thượng Phúc đã có gần 50 vị đỗ kỳ thi Hương với số lượng như sau: - Hương cống: 18 vị.
- Sinh đồ: 21 vị.
- Cử nhân: 7 vị.
- Tú tài: 3 vị.
Thống kê này chắc chắn chưa thể đầy đủ, vì các tư liệu trong địa bàn xã còn rất phong phú. Mong rằng, thông tin về các vị đỗ Trung khoa sẽ được bổ sung thêm để hoàn thiện hơn vào hồ sơ Khoa cử của xã Thượng Phúc trong thời gian tới. TIẾN SĨ NHO HỌC XÃ THƯỢNG PHÚCTrong chế độ khoa cử Nho học, Tiến sĩ là danh hiệu dành cho các sĩ tử sau khi vượt qua kì thi đình, đây là kỳ thi cao nhất do triều đình tổ chức, do nhà vua trực tiếp ra đề và phê duyệt người đỗ. Theo số điểm, người đỗ được xếp vào ba hạng gọi là tam giáp: - Bậc 1: Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất, gọi là tam khôi: trạng nguyên, thám hoa, bảng nhãn.
- Bậc 2: Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).
- Bậc 3: Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
Xã Thượng Phúc có 19 người đỗ Tiến sĩ nho học với danh sách như sau: STT | Họ tên | Thôn xã hiện nay | Thông tin | | 1 | Lý Tử Tấn | Thôn Triều Đông | Người xã Triều Đông huyện Thượng Phúc, ông đỗ Thái học sinh khoa Canh Thìn (1400), năm Thánh Nguyên đời Hồ Quý Ly. Lý Tử Tấn làm quan đến Học sĩ viện Hàn lâm các, trải 3 đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông. Ông là người có danh vọng, đức độ kỳ cựu, túc học, lúc ấy người ta gọi ông là Lý Trình. | | 2 | Phạm Cư | Thôn Thọ Giáo | Người xã La Phù huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) đời Lê Thái Tông. | | 3 | Nghiêm Lâm | Thôn Thọ Giáo | Người xã La Phù huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 8 (1478) đời Lê Thánh Tông. | | 4 | Nguyễn Văn Hiệp | Thôn Nghiêm Xá | Người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) đời Lê Thánh Tông. | | 5 | Ngô Hoan | Thôn Nghiêm Xá | Người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487) đời Lê Thánh Tông. Các con của ông là Ngô Ước, Ngô Hoành cũng có thành tích cao trong khoa cử. | | 6 | Dương Trực Nguyên | Xã Thượng Phúc | Người xã Thượng Phúc huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) đời Lê Thánh Tông. | | 7 | Nguyễn Trác (Nguyễn Trạc) | Thôn Nghiêm Xá | Người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Canh Tuất, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) đời Lê Thánh Tông. | | 8 | Phạm Đức Trinh | Xã Thượng Phúc | Người xã La Phù huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493) đời Lê Thánh Tông. | | 9 | Đào Như Hổ | Thôn Triều Đông | Người xã Triều Đông huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502) đời Lê Hiến Tông. | | 10 | Ngô Ước | Thôn Nghiêm Xá | Người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Bính Tuất, niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) đời Lê Cung Hoàng. Là con của tiến sĩ Ngô Hoan, anh trai tiến sĩ Ngô Hoành. | | 11 | Ngô Hoành | Thôn Nghiêm Xá | Người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Tuất, niên hiệu Thống Nguyên thứ 5 (1526) đời Lê Cung Hoàng. Là con của tiến sĩ Ngô Hoan, em trai tiến sĩ Ngô Hoành. | | 12 | Dương Hạng | Xã Thượng Phúc | Người xã Thượng Phúc huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Đại Chính thứ 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh. | | 13 | Lê Kính | Xã Thượng Phúc | Người xã Thượng Phúc huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải. | | 14 | Nguyễn Hữu Dực | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Quảng Hòa thứ 4 (1544) đời Mạc Phúc Hải. | | 15 | Bùi Văn Bưu | Thôn Nghiêm Xá | Người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Dần, niên hiệu Hoằng Định thứ 4 (1602) đời Lê Kính Tông. | | 16 | Nguyễn Hữu Tác | Thôn Nghiêm Xá | Người xã Nghiêm Xá huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Dần, niên hiệu Hoằng Định thứ 4 (1602) đời Lê Kính Tông. | | 17 | Phạm Thế Hỗ | Thôn Quất Động | Người xã Quất Động huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất, niên hiệu Hoằng Định thứ 11 (1610) đời Lê Kính Tông. | | 18 | Trần Khái (Trần Quốc Khái) | Thôn Quất Động | Người xã Quất Động huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu, niên hiệu Dương Hòa thứ 3 (1637) đời Lê Thần Tông. | | 19 | Lê Duy Trung | Xã Thượng Phúc | Người xã Thượng Phúc huyện Thượng Phúc, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mệnh thứ 19 (1838). |
Tên hai vị tiến sĩ Nguyễn Hữu Tác và Bùi Văn Bưu trên văn bia đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Dần niên hiệu Hoằng Định năm thứ 3 (1602), nguồn ảnh Vietnamica. HƯƠNG CỐNG XÃ THƯỢNG PHÚC TRIỀU LÊHương cống là học vị chỉ những người đỗ 4 trường thi Hương triều Lê. Học vị này có từ năm Quang Thuận 3 (1462) đời vua Lê Thánh Tông. Dân gian thường gọi tắt là Cụ Cống, Ông Cống, Thầy Cống. Những người này được dự thi Hội để lấy đỗ Tiến sĩ. Thống kê hiện tại, xã Thượng Phúc đã có 18 người đỗ qua Hương cống với danh sách như sau: STT | Họ tên | Thôn xã hiện nay | Thông tin | | 1 | Đinh Tông Thuyên (Đinh Tông Hy) | Thôn Lộc Dư | Người thôn Lộc Dư xã Hoành Phúc tổng La Phù huyện Thượng Phúc, 25 tuổi đỗ Tứ trưởng khoa Bính Ngọ niên hiệu Bảo Thái 7 (1727) đời Lê Dụ Tông, nhiều lần thi Hội đỗ Tam trường. Làm quan đến chức Phụng thị nội điện văn chức, Giáo thụ huyện Bình Lục, sung Giám sinh Quốc Tử Giám. Thọ 42 tuổi. Hiệu Thuần Chính phủ quân. | | 2 | Đinh Văn Hành | Thôn Lộc Dư | Người thôn Lộc Dư xã Hoành Phúc tổng La Phù huyện Thượng Phúc, cháu nội Tứ trường Đinh Tông Thuyên. Giám sinh Quốc Tử Giám triều Lê. | | 3 | Đinh Bá Ngọc | Thôn Lộc Dư | Người thôn Lộc Dư xã Hoành Phúc tổng La Phù huyện Thượng Phúc, đỗ Hương cống khoa Bính Tý triều Lê, nhiều lần thi Hội đỗ Tam trường. Làm quan đến chức Tri huyện huyện Hoài An, thăng Viên ngoại lang ty Thanh hình thuộc bộ Hình. Thọ 72 tuổi. Húy Hoa, tự Bá Thường, hiệu Đạm Trai phủ quân. | | 4 | Phạm Vinh Tiến | Thôn Đông Cứu | Người xã Đông Cứu huyện Thượng Phúc, | | 5 | Hoàng Duy Toản | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc, đỗ Tam trường hàng Sảo thông khoa Giáp Tý, đỗ Nho sinh trúng thức khoa Canh Tý triều Lê. | | 6 | Nguyễn Đắc Lộc | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ khoa Canh Tý, thi Hội 4 lần đỗ Tam trường. Làm quan đến chức Điển bạ, Tri huyện các huyện Diêu Hà, Thanh Miện. Hiệu Nhã Thực. | | 7 | Hoàng Duy Nhiễm | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tam trường khoa Ất Mão, khoa Giáp Tý Hỗ Tứ trường, thị Hội 3 khoa đỗ Tam trường. Làm quan trải các chức: Phụng nội văn chức, thăng Huấn đạo phủ Phụng Thiên, Tri huyện huyện Lang Tài và Thanh Lâm, Tả mạc trấn Hải Dương, Hiến sát phó sứ trấn Sơn Tây. Thụy Đoan Thận. | | 8 | Nguyễn Minh Dao | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tam trường khoa Ất Mão, khoa Giáp Tý đỗ Tứ trường, thị Hội đỗ Tam trường. Làm quan đến chức Hồng lô tự tự ban, Tri huyện huyện Đồng Hỷ. Thụy Chất Thiện. | | 9 | Nguyễn Như Khuê | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tam trường khoa Giáp Tý, khoa Quý Dậu đỗ Tứ trường, thị Hội đỗ Tam trường. Làm quan đến chức Huấn đạo phủ Thông Hóa. Hiệu Thuần Cẩn. | | 10 | Lê Minh Triệu | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tam trường khoa Bính Tý, thi Hội 2 khoa đỗ Tam trường. Làm quan đến chức Huấn đạo phủ Hoài Nhơn, Tri châu châu Văn Bàn. | | 11 | Nguyễn Thiệu | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tứ trường, sung Giám sinh Quốc Tử Giám triều Lê. | | 12 | Nguyễn Thận Nho | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tứ trường, sung Giám sinh Quốc Tử Giám triều Lê. | | 13 | Hoàng Quang Phương | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tứ trường khoa Canh Tý, sung Giám sinh Quốc Tử Giám triều Lê. | | 14 | Trần Công Vĩ | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, | | 15 | Hoàng Duy Điển | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tam trường khoa Kỷ Mão, đỗ Tứ trường khoa Mậu Tý, thi Hội khoa Canh Dần đỗ Tam trường, khoa Mậu Tuất và Giáp Thìn đỗ Sĩ Vọng. Làm quan trải các chức: Phụng nội văn chức, Tri huyện huyện Phú Xuyên, Tri phủ phủ Nam Sách. | | 16 | Nguyễn Hữu Du | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tam trường khoa Kỷ Mão, đỗ Tứ trường, thị Hội 4 khoa đỗ Tam trường. Làm quan đến chức Hồng lô tự tự ban, Tri huyện huyện Đường Hào. | | 17 | Hoàng Duy Chân | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên, huyện Thượng Phúc, đỗ Tứ trường, thi Hội nhiều khoa đỗ Tam trường. Làm quan ở bộ Lại. | | 18 | Hoàng Tiến Học | (Chưa rõ) | Người xã La Phù huyện Thượng Phúc, Giám sinh Quốc Tử Giám khoa Canh Tý triều Lê. |
SINH ĐỒ XÃ THƯỢNG PHÚC TRIỀU LÊSinh đồ là học vị chỉ những người là con thường dân đỗ 3 trường thi Hương triều Lê, con quan đỗ gọi là Nho sinh. Học vị này có từ năm Quang Thuận 3 (1462) đời vua Lê Thánh Tông. Những người đỗ Sinh đồ và không thi đỗ tiếp, mở trường dạy học ở quê nhà thì thường gọi là thầy Đồ hoặc ông Đồ. Thống kê hiện tại, xã Thượng Phúc có 21 vị đỗ Sinh đồ. Danh sách như sau: STT | Họ tên | Xã, thôn hiện nay | Thông tin | | 1 | Đinh Bá Khuê | Thôn Lộc Dư | Người thôn Lộc Dự xã Hoành Phúc tổng La Phù huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh đời Lê. Hiệu Trực Ôn. | | 2 | Đinh Trọng Trinh | Thôn Lộc Dư | Người thôn Lộc Dự xã Hoành Phúc tổng La Phù huyện Thượng Phúc. Con Tứ trường Đinh Tông Thuyên. Đỗ Sinh đồ triều Lê. Làm quan đến chức Tri bạ. Có tài hội họa. | | 3 | Đào Tiến Hiền | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh, sung Tú lâm cục triều Lê. | | 4 | Vũ Văn Khoa | Thôn Đông Cứu | Người xã Đông Cứu huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ triều Lê. Đạo hiệu Huyền Cơ. | | 5 | Hoàng Thùy Dụ | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh khoa Kỷ Dậu triều Lê. Làm quan trải các chức: Tán trị công thần, Phụ quốc thượng tướng quân, Hữu hiệu điểm, thăng Tả hiệu điểm. Sau khi mất được tặng chức Tham đốc. Hiệu Duệ Thông. | | 6 | Nguyễn Lương Trọng | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh triều Lê. | | 7 | Hoàng Lương Bật | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh khoa Canh Tý triều Lê. | | 8 | Nguyễn Tất Cương | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh triều Lê. | | 9 | Nguyễn Đắc Dụng | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh khoa Mậu Tý triều Lê. Làm quan trải các chức: Thị nội thư tả, Cai hợp, Đồng Tri phủ phủ Tư Nghĩa. | | 10 | Hoàng Duy Dị | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh khoa Kỷ Dậu triều Lê. | | 11 | Hoàng Duy Dao | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh hạng Sảo thông khoa Nhâm Tý triều Lê. | | 12 | Nguyễn Đắc Danh | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Nho sinh hạng Sảo thông khoa Ất Mão triều Lê. | | 13 | Lê Khắc Trạch | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Canh Ngọ triều Lê. | | 14 | Hoàng Cảnh Thụy | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Canh Ngọ triều Lê. | | 15 | Nguyễn Duy Năng | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Mậu Tý triều Lê. | | 16 | Trịnh Duy Quý | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Quý Mão triều Lê. | | 17 | Hoàng Duy Quan | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Đinh Dậu triều Lê. | | 18 | Hoàng Duy Liêu | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Nhâm Tý triều Lê. | | 19 | Lê Dần Lượng | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Nhâm Tý triều Lê. | | 20 | Hoàng Duy Cơ | Thôn Cống Xuyên | Người xã Cống Xuyên huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Kỷ Dậu triều Lê. | | 21 | Hoàng Đình Trạc | (Chưa rõ) | Người xã La Phù huyện Thượng Phúc. Đỗ Sinh đồ khoa Tân Mão triều Lê. |
CỬ NHÂN XÃ THƯỢNG PHÚC TRIỀU NGUYỄNCử nhân là học vị chỉ những người đỗ thi Hương. Khoa thi lấy Cử nhân bắt đầu có từ năm Quang Thái 9 (1396) đời vua Trần Thuận Tông, từ triều Lê đến đầu triều Nguyễn gọi là Hương cống. Đến năm Minh Mệnh 9 (1828) triều Nguyễn dùng lại danh xưng Cử nhân thay thế cho học vị Hương cống. Những người này được dư thi Hội nhưng chưa đỗ Tiến sĩ. Những người đỗ Cử nhân thường được bổ chức Tri huyện. Dân gian thường gọi tắt là Cụ Cử, Ông Thử hay Thầy Cử. Xã Thượng Phúc đã có 07 vị đã trúng Cử nhân triều Nguyễn. Danh sách như sau: STT | Họ tên | Thôn xã hiện nay | Thông tin | | 1 | Lê Văn Trung | Xã Nguyễn Trãi (cũ) | Người xã Thượng Phúc huyện Thượng Phúc. Đỗ Cử nhân trường Hà Nội khoa Giáp Ngọ năm Minh Mệnh 15 (1834). Làm quan tới chức Đốc học Thanh Hóa. | | 2 | Đinh Bá Cư | Thôn Lộc Dư | Người xã Hoành Phúc huyện Thượng Phúc. Đỗ Cử nhân trường Hà Nội Ân khoa Tân Sửu năm Thiệu Trị 1 (1841). Làm quan tới chức Tri huyện. | | 3 | Đinh Hữu Hoạch | Xã Nguyễn Trãi (cũ) | Người xã Hoành Phúc huyện Thượng Phúc. Đỗ Cử nhân trường Hà Nội khoa Nhâm Tý năm Tự Đức 5 (1852). Làm quan tới chức Tri huyện, được tặng hàm Thị độc. | | 4 | Phạm Thế Chúc | Thôn Quất Động | Người xã Quất Động huyện Thượng Phúc. Đỗ Cử nhân trường Hà Nội khoa Tân Dậu năm Tự Đức 14 (1861). Làm quan tới chúc Giáo thụ. | | 5 | Nguyễn Văn Kiến | Thôn Đông Cứu | Người xã Đông Cứu huyện Thượng Phúc. Đỗ Cử nhân trường Hà Nội khoa Giáp Tuất năm Tự Đức 27 (1874). | | 6 | Nguyễn Trân | Thôn Lộc Dư | Người xã Lộc Dư tỉnh Hà Nội. Đỗ Cử nhân trường Hà - Nam khoa Tân Mão năm Thành Thái 3 (1891). | | 7 | Nguyễn Ngật Thành | Thôn Ba Lăng | Người xã Ba Lăng huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Đông. Đỗ Tú tài, 33 tuổi đỗ Cử nhân trường Hà - Nam khoa Bính Ngọ năm Thành Thái 18 (1906). |
TÚ TÀI XÃ THƯỢNG PHÚC TRIỀU NGUYỄNTú tài, vốn có nghĩa là kẻ sĩ có tài năng, là học vị ban cho người thi Hương đỗ 3 trường từ năm Minh Mệnh 9 (1828) triều Nguyễn, tương đương với học vị Sinh đồ triều Lê. Khi đỗ, tên được ghi vào bảng làm bằng phên tre và không có xướng danh. Người đỗ hai lần gọi là "Tú kép", đỗ ba lần gọi là "Tú đụp", nhiều người đỗ 7, 8 khoa Tú tài. Dân gian gọi là Ông Tú, Anh Tú. Tú tài thường được ban những chức quan nhỏ hoặc ở quê mở trường dạy học, làm Hội trưởng Hội tư văn của tổng hoặc xã. Xã Thượng Phúc ghi nhận được 3 vị đỗ Tú tài. Danh sách như sau: STT | Họ tên | Xã, thôn hiện nay | Thông tin | | 1 | Tạ Đức Phương | Xã Nguyễn Trãi (cũ) | Người xã Hoành Phúc. Đỗ Tú tài. | | 2 | Lê Điệp Mai | Thôn Mễ Sơn | Người xã Mễ Sơn huyện Thượng Phúc. Đỗ Tú tài khoa Đinh Dậu năm Thành Thái 9 (1897). | | 3 | Trần Dũng Việt | Thôn Ba Lăng | Người xã Ba Lăng tỉnh Hà Nội. Đỗ Tú tài khoa Đinh Dậu năm Thành Thái 9 (1897). |
KẾT LUẬNTrong hệ thống khoa cử xưa, các vị đỗ Hương cống, Sinh đồ, Cử nhân, Tú tài là những người tuy chưa đỗ kỳ thi Hội, thi Đình để đạt tới bảng vàng, nhưng đây là nhân tố quan trọng để chuyển tiếp tinh thần hiếu học, đồng thời tạo nền tảng xã hội cho những thế hệ thành đạt hơn sau này. Ví dụ như trường hợp thôn Nghiêm Xá, vốn được mệnh danh là làng Khoa bảng với 8 vị Tiến sĩ Nho học. Tuy nhiên khi đánh giá rộng hơn, trong thôn còn có thêm 30 vị đỗ thi Hương. Từ số liệu đó, hậu thế có thêm góc nhìn rõ nét và bao quát về truyền thống của làng khoa bảng thôn Nghiêm Xá. Thiết nghĩ, việc vinh danh những vị đỗ Đại khoa vốn đã được quan tâm và thực hiện rất tốt, nhưng việc ghi nhận những người đỗ bậc Trung khoa cũng là cần thiết để làm sâu sắc hơn tinh thần hiếu học của xã nhà. Lê Nhung - Xuân Lộc
|